Khảo sát thời gian INR trong khoảng điều trị của bệnh nhân đang điều trị thuốc kháng VITAMIN K tại phòng khám BV Tâm Đức
Bs Huỳnh Thanh Kiều
Bs Đỗ Văn Bửu Đan
PGS.TS Phạm Nguyễn Vinh
TÓM TẮT
Mở đầu: Thời gian trong khoảng điều trị (TTR) là thông số đánh giá hiệu quả điều trị với thuốc kháng vitamin K (VKA). Nghiên cứu này nhằm đánh giá thời gian TTR của bệnh nhân đang điều trị VKA tại phòng khám bệnh viện tim Tâm Đức, đồng thời so sánh TTR giữa phòng khám thông thường và phòng khám kháng đông.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 200 bệnh nhân đang điều trị thuốc kháng vitamin K (48% ở phòng khám thông thường, 52% ở phòng khám kháng đông). Kết quả INR, tổng liều VKA, thời gian giữa các lần khám và các biến cố chảy máu hoặc huyết khối thuyên tắc được thu thập trong khoảng thời gian từ 01/10/2013 đến 31/09/2014.
Kết quả: Thời gian TTR tính được là 46.37 ± 23.59. Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa phòng khám kháng đông và phòng khám thường với TTR lần lượt là 48.21 ± 22.47 và 44.67 ± 24.57 (p=0.291).
Kết luận: Thời gian TTR tại phòng khám bệnh viện tim Tâm Đức thấp hơn so với các báo cáo ở các nước Âu Mỹ. Chất lượng điều trị giữa phòng khám thường và phòng khám kháng đông không khác nhau.
Từ khoá: Thời gian trong khoảng điều trị (TTR), INR, thuốc kháng vitamin K (VKA), phòng khám thông thường, phòng khám kháng đông.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay nhiều bệnh nhân được điều trị bằng thuốc kháng vitamin K (VKA) như acenocoumarol hoặc warfarin để phòng ngừa huyết khối và thuyên tắc. Hiệu quả của VKA thay đổi nhiều do tương tác với thức ăn, thuốc dùng kèm và tình trạng sức khỏe của người bệnh.
Hiệu quả kháng đông được đánh giá thông qua xét nghiệm INR (International Normalized Ratio). Mỗi chỉ định điều trị sẽ có khoảng INR mục tiêu khác nhau, vì vậy bệnh nhân cần theo dõi INR thường xuyên và điều chỉnh liều thuốc phù hợp.
Thời gian trong khoảng điều trị (Time in Therapeutic Range - TTR) phản ánh hiệu quả điều trị của thuốc kháng vitamin K theo thời gian. TTR thấp liên quan đến nguy cơ tăng chảy máu hoặc huyết khối thuyên tắc.
Nhiều quốc gia đã xây dựng phòng khám kháng đông nhằm giúp bệnh nhân duy trì kết quả điều trị tốt và giảm biến chứng. Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá TTR cũng như so sánh chất lượng điều trị giữa phòng khám thông thường và phòng khám kháng đông.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu: 200 bệnh nhân đang điều trị với VKA được tuyển chọn tại phòng khám bệnh viện Tim Tâm Đức.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Bệnh nhân điều trị VKA ≥ 6 tháng
- Có ≥ 4 lần đo INR
- Tái khám định kỳ và theo dõi đều
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Tái khám không đều
- Thời gian dùng kháng đông < 6 tháng
- Số lần đo INR < 4 lần
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả dọc, hồi cứu.
Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập từ hệ thống bệnh án điện tử eHospital. Kết quả INR được ghi nhận trong vòng 12 tháng theo dõi. Các thông tin bao gồm:
- Kết quả INR
- Tổng liều thuốc VKA
- Thời gian giữa các lần khám
- Số lần nhập viện do biến chứng chảy máu hoặc huyết khối
TTR được tính bằng tỷ lệ số lần INR đạt mục tiêu so với tổng số lần đo INR.
Phân tích dữ liệu
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Biến liên tục trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn. Biến định tính trình bày bằng tỷ lệ phần trăm. Giá trị p<0.05 được xem là có ý nghĩa thống kê.
KẾT QUẢ
Có 200 bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình 55.5 ± 14.6 (15 – 93 tuổi), nam chiếm 35.5%. Có 96 bệnh nhân theo dõi tại phòng khám kháng đông và 104 bệnh nhân theo dõi tại phòng khám thông thường.
Chỉ định VKA thường gặp nhất:
- Thay van hai lá cơ học (27.5%)
- Rung nhĩ không do bệnh van tim (18.5%)
- Rung nhĩ do bệnh van tim (16%)
Số bệnh nhân có van tim cơ học chiếm 57%. INR mục tiêu 2.0–3.0 chiếm 58.5% và INR 2.5–3.5 chiếm 41.5%.
Khoảng cách giữa các lần khám trung bình là 8.2 ± 3.4 tuần và số lần đo INR trung bình là 7.3 ± 2.7 lần mỗi năm.
Thời gian trong khoảng điều trị
TTR trung bình là 46.37 ± 23.59%.
- INR dưới ngưỡng điều trị: 34.56 ± 26.26%
- INR trên ngưỡng điều trị: 19.05 ± 19.08%
Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa phòng khám kháng đông và phòng khám thông thường.
BÀN LUẬN
Trong nhiều thử nghiệm lâm sàng, TTR trung bình đạt khoảng 55–64%. TTR càng cao thì nguy cơ biến chứng càng thấp.
Trong nghiên cứu này TTR chỉ đạt 46.37%, thấp hơn so với các nước phát triển. Nguyên nhân có thể do:
- Bệnh nhân chưa tuân thủ điều trị đầy đủ
- Bệnh nhân tự điều chỉnh thuốc
- Tương tác thuốc và thức ăn
Ở nhiều quốc gia, phòng khám kháng đông được tổ chức với đội ngũ bác sĩ, dược sĩ và điều dưỡng chuyên trách giúp cải thiện chất lượng điều trị.
Tuy nhiên trong nghiên cứu này, TTR giữa phòng khám kháng đông và phòng khám thường không có sự khác biệt đáng kể. Nguyên nhân có thể do các bác sĩ đều được đào tạo về điều trị kháng đông và quy trình chăm sóc bệnh nhân tương tự nhau.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu trên 200 bệnh nhân điều trị VKA tại bệnh viện tim Tâm Đức cho thấy TTR trung bình thấp hơn so với các nước phát triển.
Kết quả này cho thấy cần cải thiện việc theo dõi và tư vấn điều trị kháng đông để giúp bệnh nhân đạt hiệu quả điều trị tốt hơn và giảm biến chứng.
Trong tương lai cần có thêm nghiên cứu đánh giá mức độ hiểu biết của bệnh nhân về thuốc kháng đông và khả năng theo dõi INR tại nhà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Connolly SJ et al. Dabigatran vs Warfarin in Patients with Atrial Fibrillation. N Engl J Med, 2009.
- Cannegieter SC et al. Optimal oral anticoagulant therapy in patients with mechanical heart valves. N Engl J Med, 1995.
- Willey VJ et al. Management patterns and outcomes of patients with venous thromboembolism. Clin Ther, 2004.
- Bloomfield HE et al. Safe and Effective Anticoagulation in Outpatient Setting, 2011.
- Shen AY et al. Effect of race/ethnicity on the efficacy of warfarin. CNS Drugs, 2008.
- Ageno W et al. Oral Anticoagulant Therapy Guidelines. CHEST, 2012.
- Shin HW et al. Trends in oral Anticoagulation Therapy Among Korean Patients with AF. Korea Circ J, 2012.
- Beyth RJ et al. Risk of major bleeding in outpatients treated with warfarin. Am J Med, 1998.
- White HD et al. Comparison of outcomes among patients randomized to warfarin therapy. Arch Intern Med, 2007.
- Connolly SJ et al. Benefit of oral anticoagulant over antiplatelet therapy in atrial fibrillation. Circulation, 2008.